"Hà Ô Lôi" của Đinh Đức Hoàng khai thác mảng đời sống mà văn chương Việt còn né tránh: Bi kịch thế hệ của tầng lớp tiểu thị dân trung lưu mới.
"Vừa chán vừa buồn, đưa tay không người bắt
Trong những phút lòng hiu hắt quặn đau
Ước mong chi, ích gì ước mong hão đâu đâu
Những tháng năm cứ trôi, những tháng năm đẹp nhất..."(Lermontov)
Nếu có cái tên nhân vật trí thức thường được các nhà văn Việt Nam sử dụng nhất, thì chắc đó là Hoàng. Ông trí thức trùm chăn "tài thật, tiên sư anh Tào Tháo của" Nam Cao trong Đôi mắt tên Hoàng, thầy "dạy văn, mê Victor Hugo" trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài tên là Hoàng, đến "thằng tử tế cuối cùng của Hà Nội" trong Cơ hội của chúa của Nguyễn Việt Hà cũng là Hoàng. Nhân vật chính của Hà Ô Lôi, tiểu thuyết đầu tay của Đinh Đức Hoàng, cũng là Hoàng. Có lẽ, các nhà văn chọn tên Hoàng cho nhân vật trí thức tiểu thị dân thất bại bởi trong ý nghĩa của cái tên ấy hàm chứa mong muốn về thế hệ: Huy hoàng, thành đạt, vị thế, ánh sáng của kẻ sẽ đi lên bằng học vấn và tài năng. Khi Hoàng sa sút, cái ngã xuống vì thế không chỉ là một con người, mà là biểu tượng về ảo tưởng mà xã hội gửi vào tầng lớp trí thức.
Thay vì bám riết vào thứ hiện tại phẳng lì của dòng "văn chương tiêu dùng" đang phủ kín văn đàn trong nước, với những chuyện tình đô thị, những đổ vỡ gia đình được đóng gói như nội dung giải trí, những tự sự cá nhân pha sẵn mùi chick-lit, Hà Ô Lôi dám bước vào vùng đời sống mà văn chương Việt Nam lâu nay còn nhiều né tránh: Bi kịch thế hệ của tầng lớp tiểu thị dân trung lưu mới.
Bìa sách "Hà Ô Lôi". Ảnh: NXB Phụ nữ Việt Nam
Cuốn sách mở ra bằng cảnh tượng vừa đời thường vừa dữ dội: Một người đàn ông đứng ở ban công tầng cao, độc thoại như trong American Beauty "tôi đã quyết tâm mình sẽ chết, buổi trưa hôm nay". Anh tên Hoàng, từng là nhà báo, nay thất nghiệp ("thứ đã mất không phải là công ăn việc làm. Một thứ gì đó lớn hơn đã bị chà đạp"), mắc kẹt trong một căn hộ chung cư còn nợ ngân hàng, bị vợ phản bội ngay trước mắt, và cảm giác hụt hẫng về phẩm giá của chính mình - "Sống như một cái giẻ ướt. Đi làm, lĩnh lương, ủ dột".
Đằng sau bi kịch riêng ấy là bóng dáng của một cuộc khủng hoảng tài chính đang tiềm ẩn, thứ có thể đẩy hàng chục ngàn phiên bản Hoàng ở mọi tầng lớp xuống cùng một kết cục. Nhưng đúng vào lúc hiện thực tưởng đi tới rìa cuối của nó, một câu chuyện cổ xưa chen ngang: Hà Ô Lôi. Tuyến huyền sử về nhân vật này là phần sáng tạo và giàu chất văn học nhất của tác phẩm. Đinh Đức Hoàng khéo léo mượn nhân vật dân gian quen thuộc từ Lĩnh Nam chích quái, sinh ra ở đáy xã hội thời Trần, mang thân phận thấp hèn và một tham vọng không chịu ở yên trong số phận, bước vào lịch sử bằng giọng hát của một anh hề cung đình. Từ làng Chăm nghèo đến phủ quận chúa, từ cuộc tình với A Kim đến quan hệ nhập nhằng cùng quyền lực cung đình, đời Hà Ô Lôi bị giằng co giữa quá khứ và hiện tại, tình yêu và sự phản bội, cơ hội và tuyệt vọng.
Với hai đề tài về hiện tại và lịch sử chạy song song trên gần bốn trăm trang sách, nếu chỉ kể chuyện thất nghiệp, ngoại tình, suy sụp nam tính và nợ nần, đọc Hà Ô Lôi hẳn sẽ rất mệt. Nhưng truyện được viết bởi một người có tai nghe tốt với ngôn ngữ xã hội, biết bắt lấy thứ tiếng nói nửa nghiêm túc nửa lố bịch của đời sống đương đại. Hoàng có giọng mỉa mai đặc biệt, suýt có thể đạt tới thành công của phong cách giễu nhại. Một tờ báo môi trường sống nhờ tổ chức giải golf "vì môi trường". Những bài báo từng mang ảo tưởng can thiệp xã hội nay chỉ còn được gọi là "content". Một cuộc ngoại tình được phát hiện vì chất lượng vải của bộ váy văn phòng. Chính giọng điệu ấy làm cho những trang sách nặng nề nhất vẫn sắc sảo và sống động, giữ người đọc đi tiếp cùng cuốn tiểu thuyết.
Hà Ô Lôi thành công trong việc xây dựng được một hệ thống biểu tượng của tiện nghi vật chất, qua bộ ba chung cư - căn hộ - ban công. Chung cư là biểu tượng trung tâm của cuốn sách. Nó giống một ngôi làng thu nhỏ của thời hiện đại: Có hàng xóm sát vách mà xa lạ, có nội quy, camera, ban quản lý, thang máy, nhóm chat cư dân, những đời sống khép kín xếp chồng lên nhau. Căn hộ chung cư là buồng giam riêng của mỗi gia đình. Nó được mua như phần thưởng của thành đạt, nhưng lại giữ con người trong vòng quay trả góp, nợ nần, thể diện và những cuộc hôn nhân mục ruỗng. Ban công không chỉ là nơi nhân vật định tự sát, mà là phần rìa của căn hộ chung cư, nơi con người vừa còn ở trong đời sống sở hữu của mình, vừa đã đứng trước khoảng không trống rỗng. Ở những chi tiết như thế, Hà Ô Lôi cho thấy Đinh Đức Hoàng có con mắt riêng để nhìn thấy phía sau vật thể là tâm trạng, phía sau tiện nghi là bất an, phía sau đồ dùng thường ngày là cấu trúc tinh thần của một thời đại.
Tuy nhiên, chỉ điểm sáng ấy thì không đủ để khiến Hà Ô Lôi trở thành một cuốn tiểu thuyết thật sự trọn vẹn.
Thất bại đầu tiên nằm ở góc nhìn của nhà văn đối với hiện thực. Hà Ô Lôi sở hữu nhiều chất liệu giàu sức nặng từ cuộc sống đương đại: Chung cư trả góp, nghề báo bị "content hóa", hôn nhân rạn nứt, hệ thống tài chính và mạng lưới quyền lực. Người đọc dễ dàng nhận ra rất nhiều cái thật của thời đại mình. Nhưng cái thật ấy vẫn chưa là sự thật. Bởi tiểu thuyết không thể chỉ sao chép đời sống; nó phải chuyển hóa đời sống thành nghệ thuật bằng cách tổ chức hiện thực thành một cấu trúc có ý nghĩa; nhìn ra nhịp điệu, khoảng trống của hiện thực ấy, nâng nó lên thành biểu tượng, khiến chi tiết thường ngày trở nên ám ảnh và nhân vật trở thành một đại diện cho một lớp người. Ở tuyến hiện đại, cuốn sách mới chỉ mô tả đời sống, nhận ra lớp biểu tượng của những thứ vật chất bình thường, còn lại thì đứng lưng chừng giữa báo chí và tiểu thuyết.
Do thiếu bước "sáng tạo lại" hiện thực cuộc sống một cách quyết liệt, Đinh Đức Hoàng chưa đi tới được tận cùng của hiện thực. Cuốn sách có ý thức phê phán rõ ràng về sự sụp đổ của giấc mơ trung lưu, sự trống rỗng của đời sống đô thị và sự mục ruỗng của truyền thông, tài chính. Nhưng khi xung đột cần được đẩy xa hơn, tác giả không biết làm gì hơn là rút về những suy tưởng hư vô. Ví dụ, khi đối diện với đường dây lừa đảo quy mô lớn, anh chọn giải pháp để Vũ Điền, một nhân vật gần như siêu nhiên, xuất hiện, thao túng mọi thứ, giải quyết mọi thứ rồi biến mất. Việc dùng một "siêu anh hùng đen tối" để tháo gỡ xung đột cho thấy hiện thực trong sách chưa được tổ chức đủ sâu để tự sinh ra kết cục hợp lý.
Hạn chế lớn nhất chính là cấu trúc tổng thể của tác phẩm. Cuốn sách đặt nhân vật Hoàng - một tuyến hiện đại với đời sống đô thị đương thời cạnh Hà Ô Lôi - một tuyến lịch sử, huyền thoại của Lĩnh Nam Chích Quái. Nhưng hai tuyến truyện chưa thật sự giao thoa, chưa soi sáng lẫn nhau. Tiểu thuyết hiện đại đòi hỏi nhiều hơn việc chương này kể chuyện nay, chương kia kể chuyện xưa. Một cử chỉ hôm nay phải vọng lại một cử chỉ cổ xưa. Một xung đột gia đình phải mang bóng của cấu trúc quyền lực lịch sử. Không gian chung cư phải gợi bóng cũ làng Chăm. Hoàng phải là hậu thân tinh thần của Hà Ô Lôi, còn Hà Ô Lôi phải là phần vô thức của Hoàng (chứ không phải Vũ Điền). Quyền lực thời Trần phải hiện thân trong công ty, ngân hàng, truyền thông hiện đại. Khi ấy, hai tuyến truyện không còn song song, mà cộng hưởng. Hà Ô Lôi chưa đi tới điểm đó, cái xưa và cái nay gặp nhau trong ý tưởng nhiều hơn trong chi tiết sống.
Hạn chế cuối cùng là ở nhân vật trung tâm - Hoàng. Hoàng được đặt vào một bối cảnh "rất tiểu thuyết" khi đứng trước mép ban công như đứng trước mép đời mình: Thất nghiệp, nợ nần, hôn nhân sụp đổ, lòng tự trọng hao mòn, tức là có chất liệu tốt cho một cú "bừng tỉnh" của nhân vật. Nhưng từ đầu đến cuối, người đọc không thấy có sự thay đổi gì trong suy tư hay tư tưởng của nhân vật. Hoàng lúc nào cũng thế, cho dù bối cảnh có thay đổi thế nào, thì vẫn suy tư giống nhau, buồn giống nhau, đau đời một cách lịch sự, thấy hiện tượng mà không gọi nổi thành biểu tượng, cảm thấy ngột ngạt mà không nỗ lực đẩy ra một cánh cửa nào.
Thay vì để Hoàng đối mặt với bi kịch đến cùng, tiểu thuyết lại chọn lối thoát "sống tiếp trong vô nghĩa". "Sống tiếp trong vô nghĩa" tự nó có thể là một kết thúc mạnh, mang tinh thần hiện sinh: Mọi ý nghĩa cũ đã sụp đổ nhưng con người vẫn phải tiếp tục sống. Nhưng để có sức nặng, cái vô nghĩa ấy phải là kết quả tất yếu của tiến trình phát triển tâm lý nhân vật. Khi thiếu hụt nó, cảm giác để lại không phải chiều sâu hiện sinh, mà là một cách né tránh cái đau cụ thể bằng một ý niệm trừu tượng, ở đây chính là sự xuất hiện của nhân vật Vũ Điền.
Đinh Đức Hoàng có chất liệu sống, giọng văn sắc, lòng ham muốn nắm bắt biểu tượng. Anh đã dám bước ra khỏi vùng an toàn của văn chương tiêu dùng. Nhưng có lẽ vì chưa đi đến tận cùng của bi kịch, Hà Ô Lôi vẫn dừng lại ở giữa đường - giữa báo chí sắc sảo và tiểu thuyết đích thực.
Nguyễn Thanh Sơn
Post a Comment