Thơ Phạm Thiên Thư vừa tình tự vừa pha màu sắc thiền, là mưa nhỏ sân trường, là chuông chùa xa vắng, là "Hoàng Thị" một thời áo trắng.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư qua đời chiều 7/5, tại TP HCM, khép lại đời thi sĩ có giọng thơ lạ lùng trong văn học Việt Nam hiện đại - người mơ trong "cõi xưa Hoàng Thị". Tên tuổi ông nhắc nhớ một thời vang bóng của văn chương thơ nhạc Sài Gòn và miền Nam trước năm 1975.

Không thể hiểu hết sức lan tỏa của thơ Phạm Thiên Thư nếu tách ông ra khỏi không khí văn nghệ của Sài Gòn ngày ấy, nhất là từ cuối thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970. Đó là một đô thị nhiều bất an vì chiến tranh, nhưng đồng thời cũng là một không gian văn hóa sôi động, nơi báo chí, xuất bản, âm nhạc, thi ca, phòng trà, quán cà phê, sân khấu, đại học và các nhóm văn nghệ cùng tạo nên một đời sống tinh thần phong phú.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh năm 1940, quê nội Thái Bình, quê ngoại Bắc Ninh, sinh sống và hoạt động văn chương ở miền Nam. Ông từng đoạt giải nhất Văn chương toàn quốc năm 1973 với tác phẩm Hậu Kiều - Đoạn trường vô thanh. Ông cũng được công chúng biết đến rộng rãi vì là tác giả của nhiều bài thơ tình nổi tiếng được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc như Ngày xưa Hoàng Thị, Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đóa hoa sầu, Em lễ chùa này. Về sau ông chuyên tâm theo đạo Phật, có các pháp danh là Thích Tuệ Không và Thiên Tuệ Thông. Phạm Thiên Thư đã xuất bản nhiều tác phẩm thơ, có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như: Thơ Phạm Thiên Thư (1968), Động hoa vàng (1971), Hội hoa đàm (1971), Ngày xưa người tình (1974), Trại hoa đỉnh đồi (1975), Những lời thược dược (2007), Hát ru Việt sử thi (2009), Lòng đau không tiếng (2017).

Thái Thanh hát "Ngày xưa Hoàng thị"

Thái Thanh hát "Ngày xưa Hoàng Thị" (nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc năm 1971 từ bài thơ cùng tên của Phạm Thiên Thư). Video: Diễm Xưa Productions

Nhắc đến Phạm Thiên Thư, trước hết công chúng nhớ ngay đến bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị. Có thể nói đây là một trong những thi phẩm đặc biệt của văn học Việt Nam hiện đại, bởi nó không chỉ được đọc như một bài thơ, mà còn được hát lên, được nhớ, được truyền miệng, được đặt vào đời sống như một biểu hiện đáng yêu của tình yêu học trò ngây thơ thưở ban đầu.

"Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng
Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài"

Điều làm bài thơ sống lâu bền trong lòng độc giả không nằm ở một câu chuyện tình phức tạp hay bi thương. Trái lại, "Ngày xưa Hoàng Thị" chỉ đơn giản gợi nhắc về một khoảnh khắc của tuổi trẻ với một cô gái tan trường, một chàng trai đi theo, một tình cảm ngập ngừng không kịp nói. Nhưng chính khoảnh khắc ấy lại làm nên sức ngân kéo dài của bài thơ. Có lẽ còn do ai trong số những độc giả từng trải qua tuổi học trò đều có thể bắt gặp thấy chính mình ở những khoảnh khắc tương tự. Ở đó, Phạm Thiên Thư đã nắm bắt được một mỹ cảm ngôn từ. Người con trai trong bài thơ không phải mẫu tình nhân quyết liệt. Anh "đi theo hoài", nhưng bước chân ấy thầm lặng. Anh tìm lời mở nói, nhưng lòng lại "ngập ngừng". Cái hay của Phạm Thiên Thư là ông không biến tình yêu đầu đời thành lời than vãn. Ông giữ nó trong một độ trong trẻo, buồn vừa đủ, đẹp vừa đủ. Vì vậy, tình yêu đầu đời trong thơ ông không đông cứng thành kỷ niệm, mà vẫn cứ lay động mãi như những tán lá sau mưa.

Tên "Hoàng Thị" cũng là một hiện tượng thú vị. Nó vừa cụ thể, vừa mơ hồ. Cụ thể vì gợi nhắc đến một người con gái, một bóng dáng, một mối tình với cô gái có tên là Hoàng Thị Ngọ. Mơ hồ vì sau khi đi vào thơ và nhạc, "Hoàng Thị" không còn chỉ là tên riêng nữa. Nó trở thành biểu tượng của tuổi nữ sinh, của một thời áo trắng, của những tình cảm chưa kịp thổ lộ mà đã thành thiên thu.

Đoan Trang hát "Ngày xưa Hoàng Thị"

Đoan Trang hát "Ngày xưa Hoàng Thị". Video: Phương Nam Film

Phạm Thiên Thư không viết nhiều lời thơ cho tình yêu. Ông chỉ dựng cảnh vật, nhắc đến người, nói về mưa rồi để người đọc tự cảm thấy những rung động còn khuất lấp. Vì thế, bài thơ rất dễ được phổ nhạc bởi trong cấu trúc của nó đã có sẵn nhịp điệu, có điệp khúc, có khoảng lặng. Phạm Duy với trực giác âm nhạc nhạy bén, tinh tế đã thấy ở trong thơ Phạm Thiên Thư những dòng giai điệu có sẵn. Khi đi vào nhạc, "Ngày xưa Hoàng Thị" không mất chất thơ, mà còn có thêm một đời sống khác là đời sống của âm thanh, của giọng hát, của những người trẻ tuổi ở miền Nam thời đó và đi cả vào đời sống của những người trẻ tuổi thuộc những thế hệ về sau.

Nhưng Phạm Thiên Thư không chỉ có Ngày xưa Hoàng Thị, mà ông còn có những bài thơ tình lay động độc giả.

"Sợi buồn ta cắm riêng ta
Bâng khuâng nửa mảnh trăng tà cảm thông
Mắt tình em hiện dòng sông
Chìm con thuyền nhỏ giữa mông mênh đời.

(Mắt tình)

Ngay trong tình yêu, Phạm Thiên Thư đã có ý niệm về một cõi "chiêm mộng".

"Đợi em dài một luân hồi
Thêm vài giờ nữa mình ngồi có sao
Đợi em như đợi chiêm bao
Biết đâu chiêm mộng có vào đêm nay"

(Đợi chờ)

Và một lời mong cầu:

"Bây giờ ta đã gặp nhau
Thì xin đừng để nghìn sau ngậm ngùi"

(Chiêm bao)

Nên có thể nói, Phạm Thiên Thư được độc giả biết đến trước hết nhờ những bài thơ tình trong sáng, hồn nhiên, đầy chất mơ của tuổi trẻ.

"Động hoa vàng" và giấc mộng ẩn sĩ

Nếu Ngày xưa Hoàng Thị là bài thơ dành cho những tình yêu đầu đời nguyên vẹn tinh khôi, thì Động hoa vàng là miền thoát tục. Ở đó Phạm Thiên Thư dựng lên hình ảnh một "gã từ quan", rời bỏ danh lợi, lên non tìm một cõi khác. Hình tượng ấy gợi lại một truyền thống ẩn sĩ phương Đông khi kẻ sĩ chán vòng danh lợi, tìm về núi, về suối, về hoa, về cõi riêng của tâm hồn.

Ca khúc "Đưa em tìm động hoa vàng" (Phạm Duy - Thơ: Phạm Thiên Thư) - Thái Thanh

Ca khúc "Đưa em tìm động hoa vàng" (Phạm Duy - Thơ: Phạm Thiên Thư) - Thái Thanh. Video: YouTube Thái Thanh Tình Ca

Trước năm 1975, khi viết về Phạm Thiên Thư, nhà phê bình Đặng Tiến có một nhận xét thú vị rằng câu "rằng xưa có gã từ quan" là câu thơ độc giả được nhớ nhiều nhất. Nhưng Phạm Thiên Thư không phải một ẩn sĩ đã rời bỏ "thất tình lục dục". Ông đem theo cả tình yêu vào trong cõi ấy. Động hoa vàng của ông không phải nơi hoàn toàn vắng bóng con người, mà là nơi tình yêu được thanh lọc khỏi bụi bặm trần thế. Tư duy thơ của Phạm Thiên Thư là nửa đạo nửa đời, với những câu thơ nửa thực nửa hư. Phạm Thiên Thư không riêng chọn một phía. Ông không từ bỏ đời để chỉ còn đạo, cũng không chìm trong đời mà quên mất đạo. Ông để hai miền ấy va chạm và thẩm thấu với nhau. Bởi vậy, thơ ông có những hình ảnh rất trần thế như áo, tóc, hoa, trường, chùa, đường, mưa. Nhưng những hình ảnh ấy luôn được đặt trong một làn sương khói khác của cõi mộng, khiến cho chúng vừa gần lại vừa xa.

"Động hoa vàng" có những câu thơ đi vào tâm thức độc giả và nằm lại ở đó bởi một cảm thức đặc biệt. Cảm thức chủ đạo trong thơ Phạm Thiên Thư là cảm thức lãng mạn thấm đẫm thiền vị, trong đó tình yêu, sự hoài niệm và vẻ đẹp trần gian luôn được soi chiếu bởi ý thức vô thường.

"Ừ thì mình ngại mưa mau
Cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi
Sông này chảy một dòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông"

Hay:

"Thì thôi tóc ấy phù vân
Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương
Thì thôi mù phố xe đường
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi"

Cũng vì thế Động hoa vàng không chỉ là một bài thơ tình, mà còn là một ẩn dụ văn hóa. Nó nói về khát vọng rời bỏ ồn ào, tìm một không gian trong sạch để trú ẩn.

"Chim còn có đàn
Sang đông về bắc
Sao ta một mình
Buồn sầu dằng dặc.

(Cô đơn)

Nhưng, nếu chỉ gọi Phạm Thiên Thư là nhà thơ tình thì chưa đủ. Nếu chỉ gọi ông là nhà thơ Phật giáo cũng chưa đúng. Ông đứng ở khoảng giữa, nơi tình yêu và cửa Phật không loại trừ nhau mà soi chiếu lẫn nhau. Ông từng có thời gian chín năm xuất gia với pháp danh Thích Tuệ Không, nhiều tác phẩm của ông thấm đẫm triết lý và tinh thần Phật giáo như "Kinh Ngọc" thi hóa kinh Kim Cương, "Kinh Thơ" thi hóa kinh Pháp Cú, "Kinh Hiền" thi hóa kinh Hiền Ngu. Ông là người duy nhất ở Việt Nam thi hóa bảy bộ kinh Phật bằng ngôn ngữ thuần Việt. Nhưng ở ông, tinh thần Phật giáo không làm cản trở giọng điệu thơ tình. Ngược lại nó khiến tình yêu trong thơ ông có thêm chiều sâu của sự vô thường.

Bài Em lễ chùa này mở ra bằng cảnh đầu xuân cùng người con gái đi lễ chùa, trong không gian "vườn nắng", "ngàn lau", "bãi sông", "con bướm đẹp". Rồi tình yêu ấy đi qua các mùa hạ, thu, đông, để cuối cùng chạm vào sự mất mát khi người con gái trở lại chùa trong một hình hài khác, không còn là người đi lễ mà là người được tiễn đưa. Khi nhắc đến mùa đông, bài thơ đã tạo ra âm hưởng tiên cảm về sự vô thường của đời người trong cõi tạm.

"Vào mùa Đông - cùng em đi lễ
Lễ chùa này - một thoáng mưa bay
Và ngoài sân - vài cành khô gẫy
Gió lung lay một cánh lan gầy.

(Em lễ chùa này)

Ở bài thơ này, Phạm Thiên Thư đã đặt tình yêu vào vòng quay bốn mùa và đặt bốn mùa vào sân chùa. Xuân có nắng, hạ có hương, thu có chim dưới gác chuông, đông có mưa và cành khô gẫy. Tình yêu đi qua tất cả các mùa ấy, rồi nhận ra kết cục không tránh khỏi của đời người. Nhưng sự mất mát trong thơ ông không gây nên sự tuyệt vọng hay tang tóc mà trở thành một phần của chu trình vô thường trong đời sống.

Khi thơ và nhạc cùng làm nên không khí văn nghệ một thời

Để hiểu về phong cách, giọng điệu thơ của Phạm Thiên Thư, không thể chỉ đọc ông như một cá nhân tách ra khỏi môi trường văn nghệ. Ông thuộc về một thời đại, một bầu không khí mà thơ và nhạc có quan hệ mật thiết. Thơ không chỉ để in trong tập sách. Thơ có thể trở thành ca khúc. Ca khúc lại đưa thơ đến với số đông công chúng. Từ một trang giấy, bài thơ có thể đi vào phòng trà, băng nhạc, đài phát thanh, quán cà phê, trường học, những buổi họp mặt văn nghệ và đi cả vào đời sống cá nhân.

Trong bối cảnh ấy, cuộc gặp gỡ giữa nhà thơ Phạm Thiên Thư và nhạc sĩ Phạm Duy là một trong những cuộc gặp gỡ đẹp đẽ của văn nghệ Việt Nam. Trong cuốn sách Vang vọng một thời do nhạc sĩ Phạm Duy biên soạn, xuất bản năm 2012, Phạm Duy cho biết hai người làm quen với nhau vào năm 1971, sau đó gần như gặp nhau mỗi ngày và trong các mối thâm giao bè bạn, người ông thương quý nhất chính là nhà thơ Phạm Thiên Thư.

Phạm Duy viết: "Gặp tu sĩ Tuệ Không kiêm thi sĩ Phạm Thiên Thư là tôi như thoát xác, vượt ra khỏi những đắng cay, chán chường và bế tắc của tâm ca, tâm phẫn ca, vỉa hè ca. Phạm Thiên Thư đưa cho tôi tập thơ "Ðưa em tìm động hoa vàng" hay bài thơ "Gọi em là đóa hoa sầu"... để tôi phổ thành những bài hát thanh cao nhất của thời đại". Bên cạnh những bài thơ được phổ nhạc nổi tiếng, Phạm Thiên Thư còn góp phần vào mười bài "Đạo ca", một mảng quan trọng trong sự nghiệp âm nhạc của Phạm Duy. Nhạc sĩ Phạm Duy kể lại trong cuốn sách "Vang vọng một thời":

"Tôi muốn thử đi vào đạo với một tu sĩ mà cái uyên thâm về đạo giáo chắc chắn phải hơn tôi rất xa.

Trước hết tôi đề nghị anh nên soạn lại kinh Phật như kinh Kim Cương với lời tụng là thơ Việt, để tôi phổ thành bài tụng kinh, khác với lối tụng kinh theo tiếng Phạn hay tiếng Hán. Lúc còn bé tôi cũng thuộc vài câu kinh rồi, nhưng chẳng bao giờ tôi hiểu ý nghĩa của lời kinh.

Qua một bài thơ ngắn, Phạm Thiên Thư giúp tôi một con đường đi vào Đạo ca, hay đúng hơn là đi vào đạo sống. Bài thơ Pháp thân giúp tôi thấy được một sự thật trong đời là thuyết nhất nguyên:

Xưa em là kiếp chim
Chết mục trên con đường nhỏ
Anh là cội băng mai
Để tang em chờ mấy thưở

Lập tức tôi đề nghị Phạm Thiên Thư cùng tôi soạn ra 10 bài hát giống như 10 bước đi của thiền đã được thể hiện qua 10 bức tranh không trâu, có trâu, dắt trâu, mất trâu mà người học về thiền đều biết. Chúng tôi đưa ra danh từ Đạo ca, chữ Đạo không có nghĩa là tôn giáo mà là con đường. Con đường dẫn người nghe đi tìm sự an lạc của tâm hồn".

Đây là lời tự thuật quan trọng. Nó cho thấy Phạm Thiên Thư không chỉ cung cấp lời thơ cho Phạm Duy, mà còn cung cấp một thế giới quan và cái nhìn mới mẻ về sự sáng tạo nghệ thuật. Nhạc sĩ cần một con đường để đi ra khỏi những bức bách của thời thế và thi sĩ mở ra con đường ấy bằng thơ. Nếu thơ Phạm Thiên Thư là một dòng suối trôi giữa hai bờ đời và đạo, thì nhạc Phạm Duy khơi thông dòng suối ấy.

Thi sĩ Phạm Thiên Thư (2940-2026).

Thi sĩ Phạm Thiên Thư (2940-2026).

Mười bài Đạo ca cũng cho thấy một đóng góp của Phạm Thiên Thư là đưa giáo lý Phật giáo đến gần hơn với người Việt bằng ngôn ngữ của thơ và nhạc. Điều này không hề đơn giản. Kinh văn nhà Phật thường có tính trừu tượng, triết lý với nhiều lớp nghĩa. Muốn thi hóa kinh Phật nhà thơ phải vừa hiểu đạo, vừa làm chủ tiếng Việt một cách nghệ thuật, vừa biết tiết chế để không biến thơ thành sự diễn giảng giáo lý khô khan. Phạm Thiên Thư có khả năng để làm được việc đó vì ông từng tu học, lại có sự nhạy cảm về nhạc tính và hình ảnh trong ngôn từ. Ông đưa đạo ra khỏi không gian thuần túy nghi lễ để trở thành cảm xúc thẩm mỹ. Người nghe Đạo ca có thể chưa hiểu hết giáo lý, nhưng vẫn cảm nhận được những nhịp điệu an nhiên. Người đọc thơ ông có thể chưa hiểu hết Phật học, nhưng vẫn nhận ra cái nhìn vô thường, từ bi, buông xả.

Tâm sự của nhạc sĩ Phạm Duy còn rất đáng chú ý ở chỗ cho thấy quan hệ giữa hai người không đơn giản chỉ là quan hệ theo kiểu nhạc sĩ phổ thơ của thi sĩ. Đó là một sự tri âm, tri tâm, tri kỷ. Phạm Duy tìm thấy ở những sáng tác của Phạm Thiên Thư một cõi thơ có thể mở đường cho âm nhạc của mình đi vào những vùng cảm hứng khác như vùng tình ca học trò, vùng mộng tưởng ẩn sĩ và đặc biệt là vùng đạo ca. Ngược lại, thơ của Phạm Thiên Thư nhờ vào nhạc Phạm Duy mà đi xa hơn, vượt khỏi phạm vi của người đọc văn chương để trở thành tài sản tinh thần chung của người nghe nhạc Việt. Nhưng Phạm Duy không làm cho thơ Phạm Thiên Thư trở nên đại chúng bằng cách giản lược nó. Dùng âm nhạc, Phạm Duy giữ lại cái hồn của thơ Phạm Thiên Thư, giữ lại sự bảng lảng, nửa đời nửa đạo, nửa thực nửa hư.

Nhà văn Nguyễn Đức Tùng trong bài viết Phạm Thiên Thư, có ngần ấy thôi nhận xét rằng: "Thơ Phạm Thiên Thư là thơ để ngâm, để hát". Và thời ấy, những câu thơ Phạm Thiên Thư qua nhạc của Phạm Duy, nhạc Cung Tiến, qua giọng hát thánh thót mà u hoài, sang trọng mà bảng lảng khói sương của những nữ danh ca như Thái Thanh, Thái Hiền, Lệ Thu đã đi vào tâm hồn của những con người đô thị miền Nam, gắn với tuổi trẻ, với tình yêu.

Phạm Thiên Thư không chỉ để lại vài câu thơ nổi tiếng. Ông để lại cho đời một cõi thơ. Trong cõi thơ ấy có mưa nhỏ, áo trắng, động hoa vàng, gác chuông, bướm, khói hương, kinh Phật, tiếng hát nhạc Phạm Duy nhẹ nhàng vang vọng. Thi sĩ Bùi Giáng đã vẽ chân dung Phạm Thiên Thư chỉ bằng mấy câu rất theo tinh thần Bùi Giáng:

"Chạy quanh khu vực thần tiên
Mỗi chân mười ngón kết liên bốn mùa
Vườn cây trái ngọt trái chua
Mù sương hấp dẫn về chùa ngủ quên"

Hà Thanh Vân

Adblock test (Why?)

Post a Comment

 
Top