
1. Hát có nguy cơ cao gây lây nhiễm
Tờ Los Angeles Times từng đăng tải thông tin 45 trong số 121 người của dàn hợp xướng bang Washington (Mỹ) bị nhiễm nCoV (hai người đã tử vong) chỉ sau một đêm tập luyện. Chuyện đó không phải hy hữu. Không gian khép kín nơi mọi người cùng nhau cất tiếng liên tục trong một khoảng thời gian nhất định đã được chứng minh là những điểm bùng phát lớn.
Như tại thành phố Daegu của Hàn Quốc, các tín đồ của giáo phái Tân Thiên Địa tập hợp lại, quàng vai nhau và hô to "Amen" trong suốt một giờ hành lễ. Một người đã lây nhiễm cho hàng trăm người khác theo cách đó. Theo tờ New York Times, trong một đám tang ở Albany, Georgia, mọi người ôm lấy nhau và hát vang thánh ca, rồi hàng tá người bị nhiễm bệnh. Hàng trăm ca bệnh khác xuất phát từ một nhà hàng và quán bar tại khu nghỉ dưỡng trượt tuyết ở Ischgl, một thị trấn ở Áo.
Tại sao hát lại gây lây nhiễm? Một nghiên cứu vào năm 2019 được công bố trên Tạp chí Khoa học Tự nhiên cho thấy tốc độ phát thải phân tử trong khi nói của con người có mối tương quan chặt chẽ với độ to (biên độ) của giọng nói. Chỉ cần một vài người nói to và liên tục sẽ phát ra một số lượng phân tử cực lớn. Qua các tài liệu, người ta cũng tìm ra điều thú vị: nói "aah" trong 30 giây sẽ giải phóng nhiều hạt có kích thước micron (1 micron = 1/1000 mm) hơn 30 giây ho. Đó có thể là lý do đám cưới, đám tang, lễ nhà thờ... là những trung tâm bùng phát dịch lớn. Đối với nơi để "chill", một quán rượu yên tĩnh với một chút không gian giữa các khách hàng ít khi xảy ra chuyện nhiều người cùng nhiễm virus. Nhưng một quán bar náo nhiệt trên dãy Alps thì lại có rất nhiều người dương tính. Cùng nhau hát vang là niềm hạnh phúc ở thời điểm bình thường, nhưng giờ là thời Covid-19. Hiện tại cùng nhau ho có vẻ an toàn hơn là cùng nhau hát.
2. Trẻ em không dễ là tác nhân lây nhiễm nCoV
Khi bị cúm, trẻ có thể truyền bệnh sang tất cả mọi người nhưng điều này lại không đúng với trường hợp mắc virus corona. Hội chứng suy hô hấp cấp tính nặng (hay còn gọi là SARS) cũng do một dạng của virus corona gây ra và không có trẻ em nào chết vì SARS. Năm 2003, các nhà nghiên cứu Hong Kong báo cáo rằng không phát hiện trường hợp trẻ em lây truyền SARS cho trẻ khác hoặc cho người lớn, dù là trong môi trường học đường. Hiện nay, để chắc chắn hơn, các tác giả của nghiên cứu khẳng định lại rằng "không thể loại trừ khả năng đó" và bổ sung thêm rằng trẻ em Hong Kong thường xuyên đeo khẩu trang trong thời kỳ dịch SARS hoành hành. Nhưng điều này cho thấy trẻ em chỉ đóng vai trò nhỏ nhất trong dịch bệnh.
Một bản thảo nghiên cứu của hơn chục tác giả từ các tổ chức học thuật ở Australia và Trung Quốc cùng đưa ra quan điểm rằng điều tương tự có thể đúng với đợt virus corona chủng mới hay còn gọi là SARS-CoV-2. Các tác giả viết: "Mặc dù SARS-CoV-2 có thể gây ra bệnh nhẹ ở trẻ em, nhưng số liệu được ghi lại cho thấy trẻ em không ảnh hưởng nhiều đến việc lây truyền SARS-CoV-2 trong hộ gia đình". Trong số 31 cụm lây nhiễm hộ gia đình, chỉ có 3 trường hợp người phát bệnh đầu tiên là trẻ em. Ngược lại, đối với cúm gia cầm, trẻ em lại chiếm 54% trường hợp có triệu chứng đầu tiên trong gia đình.
Minh chứng này được ứng dụng rõ nhất trong việc quyết định xem có nên cho trẻ đi học lại hay không. Có lẽ mở cửa lại trường học ít nguy hiểm hơn chúng ta nghĩ, đặc biệt là khi tuân thủ các biện pháp phòng ngừa thật tốt. Đan Mạch là quốc gia đầu tiên cho trẻ em đến trường vào giữa tháng 4 vừa qua. Nhiều nước khác đang theo dõi Đan Mạch xem cách làm của họ có hiệu quả như mong đợi hay không.
3. SARS từng có thuốc điều trị dù vẫn chưa được chứng minh, giống những tranh cãi về việc dùng thuốc trị sốt rét hydroxychloroquine để điều trị Covid-19 hiện nay
Khi dịch SARS bùng nổ vào năm 2003, người ta nhận định rằng Hong Kong là nơi tốt nhất để điều trị virus này. Các bệnh viện ở đó luôn cố gắng điều trị tích cực, cho bệnh nhân sử dụng kết hợp steroid và ribavirin, hai loại thuốc chống virus, kết quả ban đầu có vẻ khả quan.
Ngược lại, các bệnh viện tại Mỹ chọn cách tiếp cận thận trọng hơn, hạn chế can thiệp vào những việc như cung cấp oxy. Ngày nay, phương pháp điều trị ở Hong Kong đã cho thấy nó dường như không đem lại lợi ích mà còn gây tổn hại lâu dài cho người sống sót như làm mất trí nhớ và hoại tử xương. 15 năm sau dịch SARS, một người sống sót chia sẻ với South China Morning Post rằng cô rất vui khi được chẩn đoán mắc bệnh ung thư. "Cái chết là điều tốt đẹp đối với tôi. Cơn đau xương không thể chữa khỏi nên tôi phải sống dựa vào thuốc giảm đau", cô nói. Những bi kịch như vậy được gợi lại khi người ta tranh luận về thuốc hydroxychloroquine không phải là "phương án tốt nhất" cho Covid-19.
Phương pháp chữa trị đơn giản đôi khi lại có hiệu quả. Ví dụ như trái cây họ cam chanh chữa được bệnh scurvy (bệnh do thiếu hụt vitamin C). Nhưng những phương pháp chữa bệnh kỳ diệu như vậy lại rất hiếm hoi. Bản miêu tả tuy chỉ là tưởng tượng nhưng lại có giá trị lịch sử của Daniel Defoe về thảm họa dịch hạch tại London than vãn về "những đơn thuốc của bác sĩ và những người dốt nát, quát tháo và can thiệp vào liều thuốc" và rằng "những viên thuốc chống dịch không bao giờ sai". Trong đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918, quinine (hay ký ninh) nổi lên như một loại thuốc được nhiều chuyên gia y tế lựa chọn, mặc dù chưa có bằng chứng chắc chắn về tác dụng của nó. Còn các bác sĩ trên khắp thế giới lại tin vào nhiều phương pháp điều trị mập mờ khác nhau, bao gồm hít khói thuốc lá và tiêm thủy ngân. Tóm lại, thời đại dịch bệnh hỗn loạn thường nảy mầm nhiều hy vọng sai lầm. Và hiện tại là một trong những thời đại như thế.
4. Khẩu trang có van nguy hiểm cho người đối diện
Bây giờ cả thế giới mới nhận ra chiếc khẩu trang y tế nhỏ bé nhưng quan trọng như thế nào. Nếu như những người phương Tây (thường không có thói quen đeo khẩu trang) chấp nhận theo lối sống của người châu Á luôn đeo khẩu trang ra đường khi bị cảm lạnh thì có lẽ tình hình dịch bệnh toàn cầu đã không căng thẳng như bây giờ.
Gần đây, người ta đổ dồn sự chú ý vào khẩu trang có van thở, phổ biến nhất là loại N95, khi một vài nhà khoa học cho rằng khẩu trang có van nguy hiểm với người khác. Vấn đề ở đây rất đơn giản: nó chỉ lọc theo chiều vào chứ không lọc chiều ra, vì mục đích ban đầu của loại khẩu trang này là dùng trong môi trường ô nhiễm khói bụi, chứ không phải là đại dịch. Vì vậy tốt nhất là nên dùng loại khẩu trang thông thường, không có van, để giữ an toàn cho những người xung quanh. Còn nếu bạn lỡ mua toàn khẩu trang có van thì bạn có thể mang thêm một khẩu trang thường lên trên.
5. Lây nhiễm xảy ra ngoài trời rất hiếm gặp
Một nghiên cứu của Trung Quốc với quy mô trên 320 thành phố, khảo sát về những đợt bùng phát từ ba người trở lên cho thấy không ai bị lây nhiễm ngoài trời. Khi các tác giả tìm hiểu về các cụm lây nhiễm nhỏ hai người, kết quả không thay đổi nhiều. Chỉ có 1 trong 7.324 trường hợp là bị lây khi ở ngoài trời. Đó là tại một ngôi làng ở tỉnh Hà Nam nước này. Các nhà nghiên cứu đã ghi lại rằng: "Một người đàn ông 27 tuổi nói chuyện ngoài trời với một người vừa trở về từ Vũ Hán vào ngày 25/1 và bắt đầu có triệu chứng vào ngày 1/2". Trong trường hợp này, hai người được cho là đã chạm vào nhau, bắt tay hoặc ở gần nhau rất lâu.
Một nghiên cứu khác của Bỉ về những nguy cơ tiềm tàng của "các giọt bắn theo dòng tồn tại phía sau vận động viên điền kinh chạy mà thành", tức là khi một người chạy đi thì vẫn có thể có virus văng ra và lơ lửng theo dòng không khí hình thành sau chuyển động đó. Nhưng nghiên cứu của Trung Quốc lại cho thấy lý thuyết này không có nhiều ý nghĩa trên thực tế. Dựa trên bằng chứng có được cho đến nay, con người ít có khả năng bị nhiễm virus corona ở bên ngoài, nên họ cho rằng mọi người vẫn có thể ra ngoài và hít thở không khí, miễn sao vẫn tuân thủ các biện pháp an toàn.
Thủy Tiên (theo VanityFair)
Post a Comment